Kiệt Tấn đến với làng văn nghệ trước tiên bằng thi tập Ðiệp Khúc Tình Yêu và Trái Phá vào năm 1966.  Ðúng 21 năm sau, tập truyện Nụ Cười Tre Trúc được xuất bản ở ngoài nước, và cũng chính tác phẩm này đã bắt cầu cho những tác phẩm khác nối tiếp nhau, làm nên tên tuổi Kiệt Tấn trên văn đàn.  Ở ông, hừng hực một ngọn lửa: dám sống hết mình, dám viết tường tận về những điều mình sống và đặc biệt là dám đẩy ngòi bút vào vùng đất, mà đối với nhiều người, cho đến nay, còn thuộc loại “cấm kỵ”, để rồi trở thành một hiện tượng văn học trong khoảng thời gian cuối thập niên 1980’s: hiện tượng Kiệt Tấn.

Truyện ngắn của Kiệt Tấn mang nhiều tính “tự sự”. Vì thế, dấu vết của nhân vật chính, xưng tôi, trong rất nhiều truyện ngắn, có thể xem là dấu vết một thời trai trẻ của ông. Ba tập truyện ngắn Nụ Cười Tre Trúc (NCTT), Thương Nàng Bấy Nhiêu (TNBN)Nghe Mưa in đậm những chuyện tình từ thuở mới lớn ở quê nhà, đến những chuyện tình với các tình nhân tóc vàng mắt xanh ở Gia Nã Ðại, Pháp khi ông đi du học.  Lồng vào đó là những truyện ngắn viết về quê hương khi đứng bên này nhìn về bên kia biển trời lồng lộng, cũng như đời sống riêng tư ở Pháp với nhiều phiền lụy của cuộc đời.  Tập truyện ngắn Em Ơi Biết Ðâu Tìm (EOBÐT), thật ra có thể xem là những trang Ký lý thú, ghi lại một thời đã qua cùng những chuyến đi gặp bạn bè và những chuyến bè bạn đi thăm ông.

Truyện dài Lớp Lớp Phù Sa vẽ lại những mãnh đời trên vùng cò bay thẳng cánh miền Nam.  Ông dựng lại nhiều lớp nhân vật, và dĩ nhiên, chuyện tình yêu và đàn bà cũng không thể nào vắng mặt.

Kiệt Tấn chẳng ưa chủ thuyết, bởi thuyết nào cũng chứa sẵn mầm loạn trong đó.  Thuyết càng lớn, loạn càng lớn (NCTT, trang 122).  Ông càng ghê tởm chính trị, vì, theo ông, chính trị đồng nghĩa với điếm nên nhất định không phải là đất của chàng (TNBN, trang 132). Với ông, lãnh tụ cũng chỉ là … tủ lạnh. Ông mệt với những anh hùng và nghẹt thở với những mớ triết lý. Và vì thế, ông “phát minh” ra cái triết lý của riêng mình – triết lý của “lỗ rún”.   Ông viết: “Tôi muốn cái gì cũng phải có ý nghĩa. Cục đá phải có ý nghĩa.  Con chó cũng phải có ý nghĩa. Tôi cũng phải có ý nghĩa. Cuộc đời cũng phải có ý nghĩa.  Ý nghĩa theo cảm quan của tôi, dĩ nhiên. Vì có như vậy tôi mới chấp nhận.  Tôi chỉ có thể chấp nhận tôi.  Thiệt hết sức logique.  Hết sức hợp lý.  Tôi đã tìm ra được triết lý của lỗ rún.  Ngó lỗ rún của mình mà lý luận. Mê lắm.” (NCTT, trang 133).

Vâng, tư tưởng lớn nảy sinh từ lỗ rún! Có ai “bình thường” mà phát minh ra triết- lý-của-lỗ-rún như ông?

Lần bước theo những tác phẩm của Kiệt Tấn, người đọc bắt gặp một giọng văn dí dỏm, thỉnh thoảng chen vào đó là một sự mỉa mai, châm biếm và cũng không hiếm lần cười cợt. Cái dí dỏm của ông là cái cái dí dỏm của một anh chàng Nam Kỳ vui tánh. Tợp xong một ngụm rượu, đặt ly xuống, kể một câu chuyện vui, xen vào những chi tiết lý thú, làm cả bàn tiệc xôn xao bàn tán, sau đó nổi lên những tràng cười đắc ý và thích thú. Viết bằng một giọng văn dí dỏm là mang trong người một dòng máu yêu đời tha thiết.  Bởi kẻ chán đời không thể nào mở được một nụ cười vui, chứ nói gì đến chuyện hóm hỉnh, dí dỏm cả ngàn trang sách.  Tuy vậy, cái yêu đời của Kiệt Tấn cũng chẳng giống ai.  Cái yêu đời của kẻ dám sống hết mình, như ông, đã vượt khỏi những thông lệ cũ càng, bứt ra khỏi những hàng rào định kiến bao đời. Từ yêu đời sang yêu người chỉ cách nhau có một bước.  Từ yêu người nói chung, qua yêu đàn bà nói riêng, dĩ nhiên bằng triết-lý-của-lỗ-rún, cách nhau chưa tới gang tay.

Kiệt Tấn yêu đàn bà da diết và thèm đàn bà dữ dội. Thiếu họ, ông khật khùng, dở khóc dở cười.  Mà thật. Nhiều lúc ông khóc tàn canh gió lộng.  Ông khóc ở Canada, ông ôm đầu, rơi nước mắt ở Paris, ông lồng lộn ở Sài Gòn, ông quay quắt ở Bạc Liêu.  Thiếu hơi đàn bà là ông ủ dột, ngật ngưỡng, lù đù, tái mét, rũ rượu.  Vì thế trên những trang sách của ông, bàng bạc những cuộc tình, những môi hôn, những đồi núi, những nhung lụa, những hừng hực, mê mẫn, bừng cháy, tuyệt dịu, thần tiên, hoang đường, phơi phới .v.v…  Ông nhắc đến người em xứ tuyết Gia Nã Ðại.  Ông cặn kẽ với người em xóm học Paris.  Ông quay cuồng với người con gái Bạc Liêu.  Ông đắm đuối với người này ở Biên Hòa, người nọ ở Gia định, kẻ khác ở Sài Gòn, người nớ ở Vũng Tàu. Mỗi người một vẻ, mỗi kẻ một đam mê, và mỗi nàng một cháy bỏng khác nhau. Tất cả những nhân vật đó góp phần làm nên văn phong vui tươi, sinh động của Kiệt Tấn trong vùng tình cảm đầy ướt át này.

Cũng nên nói thẳng rằng: nếu không có hơi hướm đàn bà của thời vẫy vùng tuổi trẻ, gần như chắc chắn không có tên tuổi Kiệt Tấn. Với ông, “Ðàn bà là cả một thế giới bí mật. Con gái cũng vậy. Càng nhỏ tuổi càng bí mật. Nhưng khi lớn lên các nàng lại càng tăng thêm bí mật – một cách khác” (EOBÐT, trang 10).  Càng bí mật, ông càng nhất mực tôn thờ. Ông đến với họ như một thứ tôn giáo của riêng ông, mà ở đó đã mở ra những đắm đuối, say mê, cởi mở, hạnh phúc, hừng hực, dập dồn, xốn xang, xao xuyến, thèm thuồng, quyến luyến… Và ông bơi lội trong vùng không gian này thỏa thích.  Tuy vậy, chỉ cần một chút để ý, ta sẽ thấy ngay ông viết về những người đàn bà với một tấm lòng, một đam mê, và đằng sau đó là chiêm ngưỡng, là trân quý. Ông viết về họ là muốn cho họ sống lại dài lâu trong lòng độc giả bằng một sự trân trọng của mình.  Ông minh định một điều: “tôi viết tình dục với mục đích cho độc giả thấy tình dục là một điều tự nhiên và đẹp đẽ. (…) Tôi không thể yêu một người đàn bà không có thân thể, thứ đến tôi không tách rời nhục cảm khỏi tình yêu chớ tôi không nhìn đàn bà với con mắt thuần nhục cảm.” (EOBÐT, trang 70). Hơn nữa, Kiệt Tấn cần hơi đàn bà, nhưng không phải ông cần để làm cái chuyện bình thường của tạo hóa. Mà lắm lúc, Kiệt Tấn cần đàn bà là để giải tỏa nổi cô đơn. Trên đời, ông chỉ sợ có hai thứ: bệnh tật và cô đơn.  Vì thế, “mỗi lần đến một thành phố lạ nào, việc đầu tiên của tôi là đi tìm đàn bà – bất cứ người đàn bà nào cũng được. Không phải để giải quyết sinh lý.  Tôi cần có sự hiện diện mà sự hiện diện đó phải là của một người đàn bà. Không có nàng tôi thấy đời sống trống rỗng, mênh mông, hoang vu dễ sợ. Tôi tưởng có thể ngã ra chết được. Tôi ghiền đàn bà như ghiền ma túy.” (Thương Nàng Bấy Nhiêu, trang 82)

Cái ghiền của Kiệt Tấn tạo nên những trang sách đẹp, bắt đầu cho cái ghiền khác, nơi độc giả: cái ghiền được nằm một mình, đọc những truyện tình của ông, nghe thấm thía ở mỗi tế bào, và lắm lúc, vừa đọc vừa cười thích thú.

 

Một trong những điểm đặc thù, ở chữ nghĩa của Kiệt Tấn, trong vùng tình cảm đầy ướt át này, là đặt nhiều cặp tính từ đàng sau môït câu nói để nhấn mạnh điều diễn tả. Cặp chữ này nối liền cặp chữ kia tạo nên những đợt sóng dập dồn trong dòng suy nghĩ người đọc.  Ðợt sóng này chưa dứt, đợt sóng khác đã đến. Chưa kịp no đầy với cảm giác cũ, cảm giác mới đã xuất hiện, kéo người đọc vào dòng chảy mới của ông, hòa mình trong đó, trôi theo những ngọn triều dâng, nhấp nhô, nhấp nhô, đẩy đến tận cùng.  Vì thế, người đọc như thấy mình tham gia đủ đầy qua những vùng chữ nghĩa của ông.

“Tôi cuối xuống cạ nhẹ môi tôi trên môi nàng. Lướt qua, khẽ lướt qua…Mướt như lụa.  Tuyệt dịu. Thần tiên. Hoang đường! Chợt nghe kiểng đổ trong đầu, thánh thót, ngân nga, vang vang, lùng bùng.  Môi nàng khép kín.  Nụ hôn đầu đời.  Phớt nhẹ.  Một lần.  Chỉ một lần thôi.  Mà vĩnh viễn!” (Nụ Cười Tre Trúc, trang 64)

“Tuyết vừa ngồi xuống là tôi đi thẳng vào nỗi ám ảnh của mình.  Bàn tay tôi sục sạo tìm kiếm đóa hoa thầm kín của nàng.  Mềm mại, ấm áp, trơn ướt, nhung êm. Mê mẫn, sung sướng, hạnh phúc. (Thương Nàng Bấy Nhiêu, trang 56)

“Chân tay hai đứa quấn quýt chằng chịt rối ben tưởng không thể nào tháo rời được nữa.  Rên rỉ, năn nỉ, xô ra, quấn vào, cuồng nhiệt, mê tơi, cực điểm, chết ngất…” (Thương Nàng Bấy Nhiêu, trang 105)

“Nàng hướng mắt về khung kiếng uốn cong truyền hình, loại truyền hình thu sẵn đông cứng, trong lúc đó đôi ngươi tôi lại dính cứng trên ô cửa bầu dục khoảng khoát, cũng truyền hình, nhưng lại là hình ảnh đời sống sờ sờ, tự tại, hiện hữu, linh động, hô hấp liên tục từng giây tùng phút. Tuyệt vời. Ngoạn mục.  Mãn nhãn.  (…)  Ðừng mà, để yên cho em coi truyền hình một chút. Coi sao nổi mà coi. Dò dẫm. Xáp lại. Rờ rẫm. Mó máy. Ngoan nào, để yên cho người ta mò trăng một tí.  Khám phá bờ giếng trên có móc cài.  Nhưng cứ để nguyên như vậy. Thú vị là ở chỗ đó. Leo ra. Chận giữ. Tức vỡ. Be bờ.  (Nghe Mưa, trang 74 – 75)

 

Ở thi ca, chúng ta thấy Bùi Giáng ăn ngủ, hít thở, sống chết với những tiếng bình dân trong cuộc sống. Thì ở thể loại văn xuôi, Kiệt Tấn đem ngôn ngữ đời thường vào văn chương rất ngoạn mục.  Không có nhiều nhà văn đi theo con đường này thành công. Bởi vì, theo lối này đòi hỏi một bản lãnh nghệ thuật, một nhạy bén của chữ nghĩa, và quan trọng hơn hết, nó đòi hỏi người sử dụng nó có một tấm lòng tha thiết với đời để nhận thấy được: ngôn ngữ đời thường gần gũi và đáng yêu. Có yêu thương sâu đậm mới dành cho nó những vị trí xứng đáng, để rồi chắc lọc lại cho mỗi trường hợp, đem nó vào văn chương, gởi đến người đọc những ngạc nhiên, thích thú.  Bàng bạt trên những trang sách là những tiếng đậm nét trong thể văn nói của miền Nam.  Lâu lâu, nghe lại những tiếng này, ta cảm thấy đầy thích thú.  Nghe Kiệt Tấn cho nhân vật của mình nói, lại càng thích thú hơn, bởi nó mang đầy chất sống, những chất sống tươi rói như phả vào câu văn, đưa đến gần người đọc. Chính chất liệu ròng này đã tạo nên những cảm giác hiếm hoi như khi có người gãi giùm mình đúng chỗ ngứa.  Ðã thiệt là đã.

Một khía cạnh khác trong văn chương Kiệt Tấn: đem thi ca, ca dao, vọng cổ vào những bản văn. Ðiều này có thể bắt gặp trong bất kỳ truyện ngắn, truyện dài hay ngay cả trong thể loại tùy bút của ông, và thậm chí trong những lá thư gởi người quen, gởi bạn bè.  Khi đem vào những trang sách của mình, ông không hề chú thích liền sau đó. Ông cứ để dòng cảm xúc của độc giả chảy dài theo câu chuyện.  Những cái chú thích sẽ làm nghẽn giao thông, phá tan cái không khí mà ông tạo được. Sau cùng, ông chú thích cuối bài một loạt tên tác giả có thơ trích, hay ca dao, hay vọng cổ. Trong rất nhiều trường hợp, ông biến một phần câu ca dao thành một phần câu văn của ông. Người được Kiệt Tấn mê nhất và được ông trích dẫn nhiều nhất, có lẽ là Nguyễn Bính và Phạm Thiên Thư.  Tuy nhiên, cũng có nhược điểm trong lối viết này: nhiều chỗ, ông như lạm dụng, đẩy một hơi mấy câu Kiều thành câu văn của mình, hay làm một lèo mấy câu thơ của họ Nguyễn, họ Phạm thành đoạn văn của mình, ngon ơ.  Ở điểm này, ít nhiều, có thể làm bực mình những độc giả khó tính.  Nhưng, thật rõ ràng, một lần nữa, Kiệt Tấn đã bày một lằn ranh minh định: bên này là Kiệt Tấn, bên kia là người khác.  Ai chịu thì ở lại, còn không …cũng không sao, nhưng đọc ai cũng dzậy, đọc tui, tui cảm ơn.

 

Kiệt Tấn có một lối diễn tả nội tâm nhân vật, nhất là những nhân vật nữ, rất tới.  Ông không dẫn giải chi li, mà ngược lại, dùng hình ảnh nói thay cho sự chuyển đổi trong suy nghĩ của họ. Tôi tin rằng những hình ảnh này, nếu lên phim, chắc chắn sẽ là những thước phim đẹp.

 

Đoàn Nhã Văn

Team VietPost

Để lại lời bình luận